A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Chuyên đề phân môn Lịch sử

Lời nói đầu: 

Đổi mới PPDHLS là sự kết hợp hài hòa và đa dạng giữa các hình thức và PPDH truyền thống với hiện đại phù hợp với đặc trưng bộ môn, đặc điểm của từng bài, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong hoạt động nhận thức.

Sự thành công của tiết dạy lịch sử là giải quyết tốt mối quan hệ giữa phương pháp và nội dung. Dạy-học lịch sử không chỉ giúp học sinh hiểu biết lịch sử một cách máy móc mà phải làm cho học sinh cảm nhận và biết trân trọng quá khứ một cách tự nhiên.

Trên cơ sở tài liệu thu thập và những kinh nghiệm giảng dạy của các thành viên tổ tư vấn, chúng tôi xin được tổng hợp và lược trích những vấn đề về phân môn lịch sử để chúng ta cùng tham khảo và góp ý kiến. 

 

Phần một: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÂN MÔN LỊCH SỬ

         

1. Những vấn đề chung:

2. Mục tiêu chung cần đạt đối với học sinh

3. Chương trình môn Lịch sử lớp 4,5CAÀU CHUNG: 

4. Đặc trưng bộ môn lịch sử và những PPDH  cơ bản

     5. Một số lưu ý khi sử dụng PPDH lịch sử:

     6. Cách dạy các dạng bài lịch sử:

     7. Mô hình bài học theo quan niệm đổi mới:

     8. Kiểm tra đánh giá:

BÀI SOẠN MÔN LỊCH SỬ ( Tham khảo )

                            

Phần hai: MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ, KINH NGHIỆM THAM KHẢO

Chuyên đề 1:  Những nội dung cần đổi mới để nâng cao chất lượng dạy –học phân môn Lịch sử…….

Chuyên đề 2: Đổi mới kiểm tra đánh giá, thúc đẩy quá trình đổi mới phương pháp dạy học phân môn Lịch sử……

Chuyên đề 3: Những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy phân môn Lịch .

 

Chuyên đề 4: Một số kinh nghiệm dọc-học phân môn Lịch sử.

         

------------------------------------------------

Phần một

 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÂN MÔN LỊCH SỬ

         

I.       Những vấn đề chung:

-        Đảm bảo tính chính xác, khoa học, vừa sức, thực tiễn, học đi đôi với hành.

-        Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, cần tập trung vào cách dạy giúp cho học sinh có được phương pháp tự học.

-        Do đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học chưa có khả năng tư duy khái quát cao nên việc cung cấp kiến thức phải đơn giản, nhẹ nhàng, cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ, sinh động, hấp dẫn.

-        Phối hợp chặt chẽ các phương pháp trong cùng một bài học cho phù hợp.

 

  II. Mục tiêu chung cần đạt đối với học sinh:


1. Cung cấp một số kiến thức cơ bản: Các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu ở các giai đoạn phát triển của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước tới nay.

2. Bước đầu hình thành và rèn luyện cho HS các kĩ năng:
- Quan sát sự kiện, hiện tượng, tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau.
- Nhận biết đúng các sự kiện lịch sử.
- Trình bày kết quả nhận thức bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…
- Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống.

3. Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở HS những thái độ và thói quen:
- Ham học hỏi, tìm hiểu để biết về lịch sử dân tộc.
- Yêu thiên nhiên, con người, quê hương đất nước.
- Tôn trọng, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và các di tích lịch sử văn hóa.

 

III. Chương trình môn Lịch sử lớp 4,5:

a. Lớp 4:
- Trình bày những sự kiện nhân vật lịch sử, những thành tựu trong giai đoạn dựng nước, giữ nước đến buổi đầu thời Nguyễn.
- Cấu tạo chương trình: Chương trình thực hiện trong 35 tiết

b. Lớp 5:
- Nội dung một số sự kiện, hiện tượng nhân vật lịch sử tiêu biểu của lịch sử Việt Namtừ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta năm 1858 đến nay.
- Cấu tạo chương trình: 35 tiết
CAÀU CHUNG:

IV.           Đặc trưng bộ môn lịch sử và những PPDH cơ bản: 

 

-        Thứ nhất: Ls là những sự việc xảy ra trong quá khứ, không thể nhận thức bằng cách suy đoán, tưởng tượng mà phải thông qua chứng cứ, dấu tích để tái tạo lịch sử.

Để tái tạo lịch sử, có nhiều phương pháp nhưng tiện dụng và hiệu quả nhất vẫn là sử dụng lời nói sinh động giàu tình cảm của giáo viên để:

                -Miêu tả.

                   - Kể chuyện

                   - Tường thuật

Đây là những phương pháp đóng vai trò chủ đạo trong dạy-học lịch sử và rất phù hợp với cấp tiểu học vì nó gợi cảm và kịch tính, tạo cảm xúc khó quên.

 

-        Thứ hai: Nhận thức lịch sử phải thông qua dấu tích của quá khứ (Hiện vật, tranh ảnh..)Do đó phương pháp trực quan đặc biệt có ý nghĩa trong DHLS, nó góp phần tạo biểu tượng lịch sử và đem đến cho học sinh những hình ảnh rõ ràng giúp học sinh nhận thức đầy đủ về hiện tượng, sự kiện, nhân vật lịch sử.

 

-        Thứ ba: Học tập lịch sử không chỉ hình dung được hình ảnh của quá khứ mà điều cốt lõi là nắm đúng bản chất của sự kiện, hiện tượng LS. Trên cơ sở đó hình thành khái niệm, rút ra bài học lịch sử, những kết luận cần thiết. PP đàm thoại giúp học sinh đạt được mục đích nêu trên.

Khi sử dụng phương pháp đàm thoại cần lưu ý:

-        Không đưa ra quá nhiều câu hỏi vụn vặt, tùy tiện, quá dễ dãi.

-        Hệ thống câu hỏi phải kích thích tư duy học sinh. Không đặt câu hỏi quá rườm rà hoặc quá khó và mang tính đánh đố.

-        Không đặt câu hỏi đã có đáp án bên cạnh.

-        Tránh đặt câu hỏi tối nghĩahoặc có thể trả lời bằng nhiều cách khác nhau.

-        Câu hỏi phải chung cho cả lớp hoặc nhóm và có thời gian trả lời.

 

-     Thứ tư: Hình thức thảo luận nhóm (PPTL) được sử dụng trong các trường hợp sau:

-        Kiến thức trong bài có nhiều cách hiểu khác nhau.

-        Những vấn đề phức tạp cần tranh luận.

-        Những kết luận, nhận xét mà tác giả SGK đã khéo léo để dành cho học sinh.

 

-    Thứ năm: Để khắc sâu kiến thức, hình ảnh, tính cách nhân vật lịch sử, ta sử dụng  phương pháp đóng vai, đàm thoại.

-        Để tái tạo lại hình ảnh lịch sử

o       Miêu tả, kể chuyện, tường thuật.

o       Trực quan.

o       Đóng vai.

-        Để phát hiện, tìm tòi bản chất của sự việc, rút ra kết luận:

o       Đàm thoại

o       Thảo luận.

 

V.  Một số lưu ý khi sử dụng PPDH lịch sử:

 

-        Trước khi dạy nội dung của bài học lịch sử cụ thể, học sinh phải biết sơ lược  về bối cảnh lịch sử mà trong đó sự kiện, nhân vật diễn ra hay hoạt động gồm thời gian, địa điểm, lí do diễn ra sự kiện đó (Phần chữ nhỏ , phần đầu mối bài học), giáo viên có thể sử dụng PP truyền đạt, kể chuyện hoặc đặt câu hỏi định hướng cho học sinh trước khi học nội dung bài.

-        Đối với bài có nhiều tình tiết liên quan với nhau theo thứ tự thời gian, PP chủ đạo là kể chuyện, giáo viên cần xây dựng hệ thống câu hỏi để hình thành dàn bài giúp học sinh có thể kể lại theo trình tự thời gian.

-        Khi sử dụng PP sắm vai cần chú ý ngữ điệu lời thoại.

-        Việc lựa chọn PPDH phải phù hợp với nội dung từng bài học cụ thể đồng thời phù hợp với điều kiện học tập của học sinh, tránh hình thức.

-        Ngôn ngữ của giáo viên là công cụ hữu hiệu góp phần cho sự thành công của tiết dạy.

 

VI.           Cách dạy các dạng bài lịch sử:

 

 Con đường nhận thức lịch sử:

          + Tạo biểu tượng lịch sử: Thường sử dụng phương pháp kể chuyện, tường thuật, miêu tả để dựng lại lịch sử như nó đã xảy ra trong quá khứ, đây là bước quan trọng nhất.

          + Hình thành khái niệm: Trên cơ sở biểu tượng vừa tạo, hướng dẫn học sinh tìm hiểu để hình thành khái niệm, hiểu bản chất của sự kiện.

          + Nêu được qui luật: So sánh, dẫn chứng để nêu được qui luật lịch sử.

          + Rút ra bài học lịch sử để giáo dục.

 

Hiệu quả của một tiết dạy-học lịch sử là giải quyết tốt mối quan hệ giữa nội dung và phương pháp.

 

Loại bài

Nội dung chính

PP dạy-học

Sự kiện

- Hoàn cảnh lịch sử.

- Diễn biến.

- Kết quả, ý nghĩa.

- K/chuyện, t/ thuật, miêu tả.

- Câu hỏi, sơ đồ, tranh, hs kể lại.

- Đàm thoại, thảo luận

Triều đại

- Hoàn cảnh ra đời của triều đại.

- Những chính sách, thành tựu tiêu biểu.

- Ý nghĩa của những chính sách…

- Truyền đạt, kể chuyện.

- Thảo luận, đàm thoại, trực quan.

- Thảo luận, đàm thoại.

Thành tựu kinh tế, văn hóa

- Hoàn cảnh lịch sử của thành tựu.

- Những nét tiêu biểu.

- Giá trị thực tiễn.

- Kết quả, ý nghĩa.

- Kể chuyện, truyền đạt.

- Trực quan, đàm thoại.

- Thảo luận, đàm thoại.

- Thảo luận, đàm thoại.

Nhân vật lịch sử

- Bối cảnh lịch sử.

- Hoàn cảnh cụ thể của nhân vật (thân thế sự nghiệp, hoài bão).

- Suy nghĩ, hành động cụ thể của nhân vật nhằm thực hiện hoài bão..

- Đóng góp của nhân vật đó cho lịch sử…

- Truyền đạt, kể chuyện.

- Kể chuyện, sắm vai.

 

- Kể chuyện, sắm vai, đàm thoại.

 

- Thảo luận.

 

 

 

VII.       Mô hình bài học theo quan niệm đổi mới:

 

-        Bước một: Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập: Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ cho học sinh hướng giải quyết (những vấn đề cốt lõi của bài học, tạo ấn tượng, gợi ý tò mò).

-        Bước hai: Tổ chức cho học sinh tiếp cận và khai thác các nguồn sử liệu trong SGK giúp học sinh biết được sự kiện, hiện tượng LS đã diễn ra trong quá khứ như thế nào. Đây là khâu đầu tiên của quá trình nhận thức nhằm tạo biểu tượng lịch sử.

-        Bước ba: Trên cơ sở biểu tượng lịch sử đã hình thành, giáo viên đặt ra câu hỏi, bài tập và vận dụng các hình thức dạy học để giúp học sinh phân tích, so sánh, nêu đặc điểm, tổng hợp những nét chung về sự kiện, hiện tượng đó.

-        Bước bốn: Giáo viên tổ chức cho học sinh trình bày ý kiến của mình, giáo viên sửa chữa, bổ sung và kết luận.

 

VIII.    Kiểm tra đánh giá:

 

-        Nội dung đánh giá: Ba lĩnh vực (KT, KN, TĐ)

-        Hình thức: KT miệng, KT viết, KT trắc nghiệm (Đúng-sai, cặp đôi, điền khuyết, nhiều lựa chọn, câu hỏi ngắn).

-        PP tiến hành: GVàHS; HS ßàHS.

-        Mức độ: Yêu cầu phân tích, tổng hợp, khái quát nhưng ở mức độ đơn giản, tìm một hoặc hai đặc điểm tiêu biểu của sự kiện, nhân vật LS.

-        Đánh giá kết quả học tập:  Điểm số  kèm theo lời nhận xét nếu có điểm đạt loại giỏi.

                                                                           Lê Văn Nhĩ  (tổng hợp)

 

 

 

 

BÀI SOẠN MÔN LỊCH SỬ ( Tham khảo )

                                                Nguyễn Thị Hải

         1 / Mục tiêu bài học:

 + Kiến thức: liệt kê, mô tả , kể tên, nêu đặc điểm, xác định ,…

+ Kĩ năng: quan sát, so sánh, đối chiếu, báo cáo, phân tích ,…

+ Thái độ: có ý thức, tôn trọng, bảo vệ,…

          2 / Đồ dùng dạy học:

+Những đồ dùng của thiết bị trường học, thiết bị tích luỹ, tự làm.

+ Xác định rõ sẽ chuẩn bị gì để liệt kê trong bài dạy và nhớ chuẩn bị chúng .

          3 / Phương pháp: (tùy theo dạng bài học)

           4 / Hoạt động dạy học:

          1 . Ổn định tổ chức :

          2 . Kiểm tra bài cũ :

   - Đặt câu hỏi để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của tiết học trước .

   - Giáo viên nhận xét – đánh giá .

   - Giáo viên nhận xét phần kiểm tra .

          3 . Bài mới: (GV chia 4 cột dọc: Thời gian, hoạt động của thầy, hoạt động của trò, hỗ trợ đặc biệt) .

            a . Giới thiệu bài:

  + Qua bài thơ, bài hát, tranh ảnh để giới thiệu bài hoặc giới thiệu trực tiếp

  + GV ghi tựa bài lên bảng - một số HS nhắc lại .

            b . Hướng dẫn tìm hiểu bài :

             * Hình thành kiến thức: (tạo biểu tuợng lịch sử)

  - Giáo viên kể lại các câu chuyện lịch sử, hay tường thuật lại diễn biến các sự kiện.

  - Tổ chức các hoạt động (tuỳ từng bài GV bố trí thời gian sao cho hợp lí):                                                                                                

  + Xác định mục tiêu các hoạt động đó: Các mục tiêu thường xoay quanh như sự kiện, hay nguyên nhân lịch sử hoặc diễn biến và ý nghĩa lịch sử. Rồi chia thành nhiều hoạt động nhỏ theo mục tiêu của hoạt động đó. Trong hoạt động chia thành nhiều bước để thực hiện.

 + Các hoạt động diễn ra thường theo hoạt động cá nhân, theo cặp, theo nhóm (nhóm 4, 6 HS )

 + Nội dung và hình thức:

                   . Làm việc với sách giáo khoa: Quan sát kênh hình, kênh chữ, đọc tranh, ảnh tư liệu để thảo luận, trả lời câu hỏi SGK.

            . Làm việc với phiếu học tập, giáo viên tự chọn hay sử dụng ở vở bài tập lịch sử : như phiếu trắc nghiệm, phiếu thống kê sự kiện lịch sử, phiếu câu hỏi tự luận hay chất vấn.

 + Học sinh trình bày kết quả thảo luận, học sinh nhận xét bổ sung.                    

 + Giáo viên kết luận, chốt ý đúng .

 + Cho HS rút ra ghi nhớ và ý nghĩa bài lịch sử .

             * Hoạt động trò chơi (Tuỳ bài GV chọn lựa hình thức phù hợp):

 - Trò chơi hái hoa dân chủ: (tiết ôn tập) chia lớp thành nhiều đội, cử HS dẫn chương trình, làm ban giám khảo. Đại diện nhóm bóc thăm và trả lời câu hỏi. Ban giám khảo nhận xét đánh giá xếp hạng.

 - Trò chơi ô chữ kỳ diệu: (ôn tập) có sẵn ở vở bài tập lịch sử .

 - Trò chơi đóng vai: (bài 2, bài 6, bài 26). Phân vai diễn, thể hiện điệu bộ, cử chỉ, lời nói của nội dung vai diễn đó.

                   4 / Hoạt động nối tiếp:                                                                                                                   

           - Giáo viên cùng học sinh hệ thống bài (nội dung chính, ý nghĩa lịch sử).                                                                                                         

           - Giáo dục truyền thống, tình cảm cho học sinh .

 - Dặn ghi nhớ bài học; chuẩn bị bài sau (cần dặn kĩ càng chi tiết).

 - Nhận xét tiết học (biểu dương , nhắc nhở…)

 

                                                --------------------------------

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần hai

MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ THAM KHẢO

Chuyên đề 1:  NHỮNG NỘI DUNG CẦN ĐỔI MỚI  ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TIỂU HỌC.

  Võ Văn Ngọc  (TH An Hải – Tuy An)

  I. Lí do đổi mới.

     Học Lịch sử không phải để nhồi nhét vào trí nhớ một cách vô cảm những sự kiện, con số, ngày tháng, mà học sử để sống và rung động với sự kiện lịch sử. Học sử để rút ra những bài học về nhân văn, về lòng yêu nước, theo phương châm học để hiểu và hành.  

     Chương trình GDPT ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo là: “Phát huy tính tích, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng bộ môn, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập”.   

   II. Mục tiêu của chuyên đề:

        Chuyên đề  nhằm giúp giáo viên và học sinh có được những kiến thức cơ bản, hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học hiện nay về lịch sử Việt Nam nói chung và địa phương nói riêng. 

       Mục đích đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện khả năng và thói quen tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tạo hứng thú trong học tập cho HS. Qua đây HS chủ động tìm tòi, khám phá, phát hiện, rèn luyện và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực, phẩm chất. Học để đáp ứng những yêu cầu cuộc sống hiện tại và tương lai.  

   III. Hiện trạng của việc dạy và học phân môn Lịch sử ở tiểu học:

Hiện nay, có một số tiết học Lịch sử Việt Nam nói chung, Lịch sử địa phương nói riêng được tiến hành một cách sinh động nhờ có sự quan tâm đầu tư cho soạn giảng, đổi mới hình thức tổ chức hoạt động cho học sinh trên lớp.

Tuy nhiên, việc dạy học này chưa được thực hiện đều ở đại bộ phận giáo viên của các trường. Nhiều tiết dạy vẫn chưa tổ chức được cho học sinh sưu tầm tư liệu và chuẩn bị bài chu đáo, chưa tạo được sự hứng thú cho học sinh tham gia học hỏi và tìm hiểu kĩ bài học. Điều này dẫn đến nhiều học sinh không biết gì về truyền thống lịch sử cha ông hay nhầm lẫn rất nhiều các khái niệm với nhau. Đây là một điểm yếu cần được khắc phục.

Cũng có thể nói thêm, giáo viên gặp không ít khó khăn khi dạy Lịch sử Việt Nam. Một nguyên nhân quan trọng của tình trạng trên là các sách lịch sử của chúng ta viết về các thời kì còn nặng về chính trị và quân sự, nêu quá chi tiết về diễn tiến của các trận chiến, . . . mà ít chú ý đến nội dung trọng tâm của việc xây dựng và bảo vệ đất nước.  

   IV. Cần làm gì để nâng cao chất lượng dạy - học môn Lịch sử ?

Chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm về đổi mới dạy - học môn Lịch sử ở các trường. Những kinh nghiệm này cần tiếp tục được tập hợp, phổ biến và nhân rộng như: Tiếp tục sử dụng hợp lí các phương pháp dạy học Lịch sử, đảm bảo đặc trưng bộ môn và gây hứng thú cho học sinh; Gây xúc cảm và giáo dục tư tưởng cho học sinh qua từng tiết học Lịch sử; Đảm bảo sự cân đối giữa hoạt động của giáo viên và học sinh trong giờ học. Trong đó đặc biệt coi trọng việc thiết kế các hoạt động nhận thức độc lập của học sinh. Tiếp tục phấn đấu theo hướng giảm phần thuyết trình của giáo viên để học sinh được hoạt động nhiều hơn; Tiếp tục làm phong phú những kinh nghiệm rèn kĩ năng học tập bộ môn cho học sinh, kinh nghiệm tổ chức những tiết ôn tập. Trong thực tế, còn có nhiều GV tỏ ra lúng túng khi dạy các tiết ôn tập và tổ chức kiểm tra, đánh giá; Đồng thời cũng cần phổ biến rộng rãi những kinh nghiệm biên soạn và dạy giờ học Lịch sử địa phương, dạy học qua ứng dụng công nghệ thông tin… 

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực đã khiến mối quan hệ thầy - trò trong nhà trường bắt đầu có sự thay đổi. Vị trí trung tâm của người thầy giáo không còn ở nghĩa truyền thống và đã bắt đầu dịch chuyển sang học sinh. Giáo viên không chỉ đơn thuần truyền thụ kiến thức cho học sinh tiếp nhận mà còn là sự phản ảnh trở lại của các em. Trong thời đại bùng nổ thông tin, khi học sinh có nhiều kênh tiếp nhận thông tin thì trường học phải là kênh duy nhất truyền đạt kiến thức một cách có hệ thống, trong đó, giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn. Trên quan điểm như vậy, các trường cần khuyến khích mọi học sinh phải chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp để có thể hình dung trước những khái niệm, kiến thức sẽ phải tiếp thu và khắc sâu.

Nhân cách con người không thể phát triển qua việc tiếp thu tri thức mà phát triển bằng hoạt động và trong các hoạt động của chính người ấy. Tính chất của hoạt động ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành nhân cách: hoạt động rập khuôn, bắt chước máy móc, học tập theo lối tái hiện sẽ cho kết quả là những con người chỉ biết thừa hành, thiếu năng động, sáng tạo. Muốn có những con người năng động, sáng tạo cần phải tổ chức các hoạt động vui chơi, học tập tích cực, sáng tạo. Muốn có những con người có năng lực hợp tác, có khả năng làm việc cùng đồng đội, cần tổ chức các hoạt động vui chơi, học tập theo nhóm, mang tính chất tập thể. 

     Do đó để đổi mới phương pháp dạy học đạt hiểu quả cao, chúng ta cần chú ý:

-    Thứ nhất, bồi dưỡng tình cảm, giáo dục thái độ: HS chủ động, sáng tạo; GV dạy học theo phương pháp nêu vấn đề, hướng dẫn, tổ chức hoạt động dạy học cho HS.

-    Thứ hai, thiết kế bài giảng phải khoa học, xác định rõ hoạt động của GV và HS ( câu hỏi đặt ra phải hợp lí có tính chất phân loại HS, bài học cần xác định nội dung trọng tâm, vừa sức, giúp HS nắm vững bản chất kiến thức, tránh ghi nhớ máy móc).

-   Thứ ba, ứng dụng CNTT, sử dụng TBDH, thí nghiệm, thực hành, liên hệ thực tế.

-   Thứ tư, ngôn ngữ, tác phong của GV chuẩn xác.

-   Thứ năm, dạy học sát đối tượng ( bồi dưỡng HS khá giỏi và giúp đỡ HS yếu kém).

-   Thứ sáu bắt đầu tiết học nhẹ nhàng, tự nhiên phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học. 

   V. Lời kết:

Mỗi giáo viên cần xác định vai trò chủ đạo của giáo viên trong đổi mới phương pháp dạy học, trước hết phải tìm tòi phương pháp truyền đạt có hiệu quả, kích thích tích tư duy, sáng tạo của học sinh. Chủ động tự bồi dưỡng chuyên môn, tìm tài liệu chuẩn phù hợp với nhận thức của học sinh để cung cấp cho các em như: Giáo viên thường xuyên theo dõi cập nhật những thông tin, những số liệu liệu sự kiện Lịch sử qua các phương tiện thông tin (sách, báo phim ảnh...) để có tư liệu giảng dạy gây hứng thú cho học sinh. Qua đó hướng dẫn học sinh sưu tầm tài liệu để chủ động sáng tạo trong tiếp thu kiến thức. 

Trong việc soạn giảng, giáo viên nên thiết kế bài bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng của môn học, bài học. Sắp xếp các hoạt động của giáo viên, học sinh mọt cách phù hợp đặc điểm của từng bài và sử dụng thiết bị dạy học: Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Cụ thể: Đối với những bài mới, khó trong chương trình, giáo viên cần thông qua họp tổ chuyên môn, thảo luận và thống nhất những nội dung trọng tâm cần truyền đạt cho học sinh và thống nhất những hoạt động của học sinh trong các mục của bài đó để phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của các đối tượng học sinh. 

Do đó để giúp học sinh có thể hiểu nắm đươc nội dung bài học một cách tích cực, giáo viên cần có cách tổ chức cho học sinh biết sưu tầm tư liệu, thông tin nhằm chuẩn bị cho bài học mới, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng đồ dùng thiết bị, phương tiện trực quan, thăm quan thưc tế phục vụ cho việc dạy học đạt hiệu quả.  

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh cụ thể của các nhà trường cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đặc điểm đối tượng học sinh còn thụ động một chiều để nắm bắt kiến thức, chưa chủ động tích cực, sáng tạo trong học tập, giáo viên cần phải quan tâm hơn cho sự đổi mới phương pháp giảng dạy trong các giờ lên lớp như sau:

1/ Thay đổi tư duy trong dạy học.

2/ Tuỳ thuộc vào đặc trưng của bộ môn giáo viên phải tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình nắm bắt kiến thức, tránh sự nhàm chán, căng thẳng trong mỗi giờ học, tích cực dạy học theo phương pháp nêu vấn đề.

3/ Giúp học sinh nâng cao tính tự học, tham gia họt động nhóm đạo hiệu quả cao và cá thể hoá trong học tập.

4/ Nhà trường, chính quyền địa phương, gia đình học sinh cần tạo môi trường đẩy đủ nhắm phát triển toàn diện cho các em (kiến thức, kĩ năng, thái độ). Ngoài giờ học chính khoá nên có những buổi học ngoại khoá, tham quan dã ngoại mang tính thực tế hơn. 

     Chúng tôi nghĩ, nếu làm được như vậy thì chúng ta sẽ gặt hái được kết quả đáng kể hơn trong việc dạy và học, đặc biệt đối với môn Lịch sử - Địa lí phần Lịch sử, môn học góp phần hình thành phẩm chất con người Việt Nam theo 5 điều Bác Hồ dạy đối với thiếu nhi.
                                                                                   

------------------------------------------------------------------------------------------------

 

 

Chuyên đề hai: ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH
         GIÁ THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
                          DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ

Đặng Ngọc Sĩ (TH Hòa Xuân Tây – Đông Hòa)

 

1. Nhận thức về đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học lịch sử:


     Kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học lịch sử là quá trình thu thập và xử lí những thông tin về tình hình lĩnh hội kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng đạo đức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo của học sinh so với mục tiêu dạy học.
     Đây là một khâu quan trọng không thể thiếu được của quá trình dạy học, biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học, và nó có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt:


Thứ nhất, kiểm tra đánh giá giúp giáo viên hiểu rõ việc học tập của học sinh, đánh giá được kết quả học tập của các em, và phát hiện những thiếu xót trong kiến thức, kĩ năng để kịp thời sửa chữa, bổ sung. Đồng thời, cũng đánh giá được kết quả công tác giảng dạy của bản thân, đúc rút kinh nghiệm và có những biện pháp thích hợp nâng cao chất lượng dạy học.
Thứ hai, kiểm tra, đánh giá có tác dụng giáo dục tư tưởng, đạo đức, phẩm chất của học sinh, hình thành ở các em lòng tin, ý chí quyết tâm đạt kết quả cao, sự trung thực, tinh thần tập thể, ý thức giúp đỡ nhau trong học tập.


Thứ ba, kiểm tra đánh giá có tác dụng lớn trong việc phát triển toàn diện học sinh, về năng lực nhận thức, khả năng tư duy, những kĩ năng và thói quen trong học tập của học sinh.
Như vậy, nếu thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, đánh giá sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn.

·       Nội dung kiểm tra, đánh giá bao gồm các yêu cầu về giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. song chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra, đánh giá kiến thức và kĩ năng của học sinh.
Về mặt kiến thức, cần đánh giá học sinh theo 6 mức độ: Nhận biết - thông hiểu - vận dụng - phân tích - tổng hợp - đánh giá. Những mức độ này nhiều khi đan xen và đi liền nhau. Tuy nhiên, trong mỗi đề hay mỗi câu hỏi kiểm tra không nhất thiết phải đủ cả 6 mức trên.

·       Về mặt kĩ năng, trong kiểm tra, đánh giá môn lịch sử cần tập trung vào các kĩ năng:

 - Sử dụng lược đồ, biểu đồ, lập bảng thống kê...;

- Tư duy: so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá, vận dụng...;

 - Thu thập, xử lí, viết báo cáo và trình bày thông tin lịch sử.

Giáo viên còn phải căn cứ vào mục đích giáo dục nhằm tào tạo ra những con người năng động, sáng tạo, thích ứng và hoà nhập để kiểm tra trí thông minh, sáng tạo, tư duy của học sinh.
  

·       Hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá có thể do giáo viên kiểm tra, đánh giá hoặc do học sinh tự kiểm tra, đánh giá:
Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, có thể tiến hành hai loại kiểm tra đánh giá:

 - Kiểm tra cơ bản, gồm kiểm tra miệng, kiểm tra cuối kì, cuối năm:

- Kiểm tra ngoài giờ học, rất phong phú, đa dạng có thể quy vào hai loại: kiểm tra việc tự học ở nhà và kiểm tra trong các hoạt động ngoại khoá.
     Trong dạy học lịch sử, về cơ bản có hai hình thức kiểm tra:

 - Kiểm tra miệng có thể tiến hành vào đầu giờ học hoặc đan xen trong quá trình dạy học, có thể giúp giáo viên nhanh chóng đánh giá được học sinh;

- Kiểm tra viết, kiểm tra cuối kì, cuối năm giúp giáo viên đánh giá được trình độ của tất cả học sinh, qua đó đánh giá trình độ các em về mọi mặt.


Các phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học lịch sử gồm: kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi tự luận và kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan.


      Để thực hiện tốt việc kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học lịch sử góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, các cấp quản lí giáo dục, các trường cho đến các thầy cô giáo phải nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá học sinh. Đó là một trong những biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học. Đồng thời khi kiểm tra đánh giá phải đảm bảo độ tin cậy của kết quả kiểm tra, tránh việc chạy theo thành tích. Phải đảm bảo tính hoàn thiện trong nội dung kiểm tra, đánh giá. Phải đổi mới, đa dạng hoá hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá trong dạy học lịch sử, tổ chức tốt các khâu ra đề, coi và chấm kiểm tra.


2. Điều kiện để thực hiện việc kiểm tra, đánh giá.


Về thuận lợi:
- Ban Giám hiệu luôn quan tâm đến kiểm tra, đánh giá như việc lên kế hoạch làm các loại đề kiểm tra định kì, việc tổ chức các kiểm tra nghiêm túc, đúng quy chế.
- Thực tế trong những năm qua, nhận thức rõ về chức năng, nhiệm vụ của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông. Vì vậy mà giáo viên đã có nhiều cố gắng cải tiến về nội dung và phương pháp để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đặc biệt là việc tìm tòi, trao đổi với đồng nghiệp về đổi mới hình thức kiểm trá đánh giá để mang lại hiệu quả cao.


Về khó khăn:
- Cán bộ quản lí giáo dục, cũng như một số giáo viên  và học sinh chưa nhận thức đúng đắn về vai trò của bộ môn lịch sử, thường coi sử là môn phụ, môn học thuộc lòng.
-  Một số giáo viên còn ngại khó, làm các đề kiểm tra còn mang tính đối phó, hình thức.
- Việc học tập của học sinh còn nặng tình trạng học tủ, học lệch, chưa phát huy được tính sáng tạo của học sinh.
- Một bộ phận  phụ huynh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học tập lịch sử nên chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho việc học tập của con em.


Từ thực trạng trên nên việc tiến hành đổi mới phương pháp dạy học nói chung, đổi mới việc kiểm tra đánh giá còn gặp nhiều khó khăn.


Tồn tại, hạn chế trong việc thưc hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá:
- Trong kiểm tra chỉ mới xem xét học sinh nhớ, biết những sự kiện lịch sử đã học, chưa kiểm tra mức độ hiểu biết, vận dụng của học sinh.
- Chưa phát huy được kĩ năng của học sinh, tức là ít kiểm tra về kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ...Chưa gắn liền viêc học đi đôi với hành.
- Trong đề kiểm tra chưa biết kết hợp hài hòa giưa việc ra câu hỏi tự luận và trắc nghiệm. Vì mỗi dạng đều có những ưu điểm và hạn chế, nó có thể bổ trợ cho nhau, nên dẫn đến hiệu quả của việc kiểm tra, đánh giá chưa cao.
- Giáo viên chưa xác định được kiến thức chuẩn, nên nội dung kiểm tra còn lan man, vụn vặt.
- Giáo viên chưa khuyến khích học sinh suy nghĩ, phát biểu, thường áp đặt, bắt buộc học sinh phải tiếp nhận thụ động một luận điểm hay một kết luận nào đó.
Trong việc kiểm tra đánh giá còn nhiều hạn chế nên kết quả học tập bộ môn lịch sử chưa cao, học sinh chưa nắm được kiến thức cơ bản, nắm mơ hồ, lẫn lộn các sự kiện, nhân vật lịch sử.


3. Một số biện pháp góp phần đổi mới kiểm tra, đánh giá.


- Để nâng cao hiệu quả của việc kiểm tra đánh giá, trước tiên giáo viên phải nhận thức đúng về vai trò của kiểm tra, đánh giá. Nhận thấy kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Các câu hỏi kiểm tra, đánh giá phải ở mức độ vừa phải, có giá trị, phù hợp với từng lớp, từng đối tượng học sinh. Tránh đặt câu hỏi quá khó, vượt khả năng tư duy của học sinh và cũng không quá đơn giản, cần bám sát chương trình sách giáo khoa, mục tiêu và đặc trưng của môn lịch sử.
- Cần dành nhiều thời gian cho việc kiểm tra học sinh vào cuối mỗi bài bằng các câu hỏi tự luận hoặc trắc nghiệm mà giáo viên chuẩn bị trước. Qua đó đánh giá được nhận thức của học sinh trong từng bài, từng chương, để có sự điều chỉnh phù hợp.
- Trong việc kiểm tra, đánh gia khắc phục thiếu sót thường gặp, như chỉ tiến hành một chiều - từ thầy đến trò, cần chú ý bồi dưỡng cho học sinh biết tự kiểm tra, đánh giá lẫn nhau.
- Việc kiểm tra phải hình thành năng lực biết- hiểu- vận dụng kiến thức chứ không phải chỉ giới hạn ở việc nhớ niên đại, địa danh, sự kiện, nhân vật.
- Trong việc tiến hành kiểm tra, đánh giá giáo viên phải động viên, khích lệ học sinh kịp thời, đồng thời cũng phải là người công tâm, trung thực.

 

-------------------------------------

 

 

Chuyên đề 3: NHỮNG KINH NGHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN LỊCH SỬ

Nguyễn Thị Hải (TH Đào Duy Từ-TP Tuy Hòa).

 I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Ngay từ cấp tiểu học, ở lớp 4, lớp 5, các em đã được học lịch sử  qua một phân môn rõ rệt mà không lồng ghép chung với bất cứ phân môn nào. Có chăng, đó là sự bổ sung thêm kiến thức Sử cho các em từ các phân môn khác (ví dụ: phân môn kể chuyện, đạo đức, tập làm văn, tập đọc….). Điều này càng cho chúng ta thấy, việc dạy Sử  trong nhà trường là điều cần thiết và quan trọng không thể lơ là. Vậy làm thế nào để các em yêu thích môn lịch sử, các em tự tìm đến với lịch sử  của dân tộc. Và đây cũng chính là niềm trăn trở của tất cả chúng ta, những người làm công tác “ trồng người”.

  II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 

Chương trình lịch sử lớp 5 tập trung cung cấp cho các em về một số  sự kiện, hiện tượng lịch sử  và một số nhân vật lịch sử  theo từng mốc giai đoạn thời gian: 1858- 1945: Hơn 80 năm chống thực dân Pháp; 1945- 1954: Bảo vệ chính quyền non trẻ, trường kì kháng chiến chống Pháp; 1954- 1975: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước;  1975- Nay: Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước.

      Đối với lứa tuổi các em, việc  tiếp thu và nhớ  các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử  thật là khó, đặc biệt là với cách dạy thầy nói, trò nghe. Do vậy, để có một tiết học lịch sử hiệu quả, tạo được sự thu hút, yêu thích nơi các em, chúng ta cần lưu ý những điều sau:

1.    Đối với giáo viên:  

-   Trước hết người giáo viên phải là người yêu thích Sử, tự trang bị cho mình thật nhiều kiến thức bên cạnh việc nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, nắm vững các kiến thức mục tiêu cơ bản cần truyền đạt, đảm bảo một hệ thống kiến thức liên tục, có sự  liên hệ liền mạch: các thời kì- các sự kiện tiêu biểu- các nhân vật lịch sử tiêu biểu.

            Ví dụ:1858- 1945: Diễn ra các phong trào chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ- Nhân vật lịch sử  tiêu biểu trong giai đoạn này là: Trương Định, Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Nguyễn Tất Thành.

- Giáo viên cần phối hợp giữa lý thuyết  và thực hành, sử dụng kết hợp linh hoạt các phương pháp và các hình thức dạy học, trong đó chú trọng phát  huy năng lực chủ động sáng tạo nơi  các em.

           Ví dụ: Ở bài “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước”, nội dung của bài học này khá gần gũi với các em, giáo viên nên giao nhiệm vụ cho các em sưu tầm tư liệu về tiểu sử của Bác, trao đổi trình bày trong nhóm và trước lớp. Đây chính là cách giúp học sinh chủ động tiếp cận kiến thức thông qua sự dẫn dắt của giáo viên.

- Khi tiến hành hoạt động dạy học, chúng ta cần dựa trên trình độ thực tế của lớp mà lựa chọn phương pháp, hình thức phù hợp nhất.

            Ví dụ: Trong mỗi bài dạy, chúng ta luôn xây dựng một hệ thống câu hỏi đi từ dễ đến khó. Qua đó, giáo viên lựa chọn phương pháp đàm thoại-vấn đáp hay thảo luận nhóm, trao đổi… theo hình thức cá nhân, nhóm 2 hay nhóm 4…để giải quyết những vấn đề được đặt ra.

        - Việc linh hoạt tổ chức đối tượng học sinh hoạt động theo nhóm cùng cần được quan tâm, tránh áp đặt cố định số lượng hoặc trình độ học sinh hay để học sinh quá đông trong một nhóm.

             Ví dụ: Nếu giải quyết chung một đề tài khó, chúng ta nên có sự đan xen về trình độ học sinh trong cùng một nhóm để các em hỗ trợ cho nhau. Nhưng cũng có lúc, chúng ta hãy tạo điều kiện cho các em học sinh còn chậm, còn nhiều hạn chế cùng làm việc với nhau theo nhóm và dành riêng cho các em một đề tài dễ hơn. Đây cũng là lúc giáo viên phát huy vai trò của mình “Dạy học phân hóa đối tượng học sinh.”

- Giáo viên nên chú trọng rèn kĩ năng, tạo cơ hội cho các em cùng tham gia vào quá trình tìm hiểu, hình thành kiến thức thông qua các nhiệm vụ như: Tổ chức thảo luận, phân tích vấn đề, sắm vai tái hiện lại sự việc đã diễn ra, thu thập tư liệu và trình bày những hiểu biết của mình qua trò chơi lớp học nhằm tạo sự hứng thú, phát huy tính tích cực vốn có ở học sinh.

  Ví dụ: Sau khi học sinh thảo luận câu hỏi sau: “Cho biết nguyên nhân dành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ?” Các nhóm sẽ tham gia trả lời  qua hình thức trò chơi” Rung chuông vàng”, cá nhân nhóm trả lời đúng sẽ được rung chuông chúc mừng.

  -  Giáo viên nên nắm rõ được mục đích của việc tổ chức trò chơi lớp học là giúp các em phấn khởi, không bị nhàm chán bó buộc trong yêu cầu của giáo viên khi báo cáo lại kết quả làm việc, mà vẫn đem lại hiệu quả giáo dục cao.

     Ví dụ: Có những  hình thức trò chơi sau: trò chơi “Chung sức”, trò chơi “Rung chuông vàng”, hội thi “Em là phóng viên nhỏ”, trò chơi “Thi tiếp sức”, trò chơi “Rung chuông vàng”…..

     -  Khi phải truỵền đạt tường thuật lại một vấn đề lịch sử, giáo viên cần chú ý cách diễn đạt , giọng kể sao cho phù hợp,  hấp dẫn, thu hút sự  chú ý của học sinh, lồng giáo dục ý nghĩa lịch sử, khơi gợi niềm tự hào về truyền thống đấu tranh của dân tộc.

       Ví dụ: + Khi giới thiệu về nhân vật lịch sử, cụ thể là tấm gương chiến đấu của anh Phan Đình Giót, anh Tô Vĩnh Diện cần thể hiện giọng chậm rãi, sâu lắng, nhấn giọng khi nhắc đến tình huống hy sinh anh dũng của các anh.  

                 + Đối  với sự kiện lịch sử, chúng ta trình bày với  giọng nói rõ ràng, manh tính chất tường thuật, lưu ý những mốc thời gian gắn với sự kiện diễn ra tại địa điểm nào, kết hợp phương tiện trực quan để làm rõ ý cần minh họa .

      - Giáo viên hãy dành ít phút thời gian để có những cuộc trao đổi nhỏ với  các em, từ  đó  sẽ giúp bản thân định hướng thêm trong bài dạy của mình.

       Ví dụ: Sau bài học hôm nay, em có suy nghĩ gì? Bài học hôm nay, em tâm đắc nhất điều gì?  Ý kiến của em về vấn đề này như thế nào?

2.    Đối với học sinh:

  - Phát huy vai trò chủ động trong hoạt động học qua việc sưu tầm những tư liệu, thu thập thông tin từ những người thân, bạn bè, môi trường sống quanh các em, mạnh dạn trao đổi, nêu ý kiến thắc mắc, tham gia các hoạt động ngoại khoá “Về nguồn”, bởi đây là những minh chứng thiết thực nhất cho những bài lịch sử mà các em đã học.

3.    Khai thác môi trường học tập:

- Môi trường học tập của các em đối với môn lịch sử  quả thật là rộng lớn, nơi các em ở, vui chơi học tập: một cái tên đường, một áp phích tuyên truyền, một di vật, một địa danh lịch sử  cũng đủ làm gợi trí tò mò của các em. Chính vì vậy các em cần có thói quen quan sát cuộc sống xung quanh mình. Vì đây là nguồn tư liệu vô cùng quý giá không chỉ đối với môn lịch sử  nói riêng, mà của tất cả các môn học khác. Như  vậy, giáo viên sẽ là người giúp các em hình thành thói quen đó thông qua việc giao nhiệm vụ cụ thể, phù hợp qua từng tiết dạy, chủ điểm tháng, tuần.

     Ví dụ: Tìm hiểu di tích lịch sử  ở địa phương em ở: Vì sao con đường này lại có tên là Lê Thành Phương? Em biết gì về ông Lê Thành Phương?

               Qua những chuyến đi tham quan: nghĩa trang Thành phố, nhà bảo tàng ,Chứng tích chiến tranh, truyền thống đấu tranh của quân và dân ta đã thể hiện như thế nào?

+ Lớp học: Xây dựng lớp học thân thiện là điều cần thiết và trong đó chúng ta không thể bỏ qua mảng lịch sử. Những  bài văn, hình ảnh, một câu chuyện nhân vật lịch sử do chính các em sưu tầm, viết ra sẽ góp phần làm cho tâm hồn các em phong phú, và có tác động đến tất cả bạn bè xung quanh.

  Ví dụ: Làm sổ tay lịch sử, mỗi tuần là một nhân vật lịch sử…

+ Trường học: Việc tổ chức các hoạt động tham quan, dã ngoại, các buổi lễ kỉ niệm thông qua nhiều hình thức như: hội thi, trò chơi, làm bảng tin, tranh vẽ...có chọn lọc cũng sẽ giúp các em khắc họa được những nét tiêu biểu về một số sự  kiện, nhận vật lịch sử  một cách tự nhiên và nhẹ nhàng.

    Ví dụ: Tổ chức cho học sinh tham quan các di tích lịch sử, tổ chức triển lãm các thông tin hình ảnh lịch sử do chính học sinh sưu tầm, sắp xếp diễn biến theo từng chặng thời gian (có sự hỗ trợ của Đoàn- Đội)

+ Gia đình: Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng tác động đến việc hình thành nhân cách cho các em. Nét đẹp truyền thống của gia đình Việt Nam vẫn giữ được đó là nhiều thế hệ cùng sống chung trong một nhà: Ông, bà- cha, mẹ- con- cháu, cho nên đây cũng luôn là một môi trường học tập gần gũi với các em, những câu chuyện lịch sử  sống động từ kinh nghiệm và vốn sống hiểu biết của người thân luôn được các em lắng nghe bằng cả sự  háo hức và tin tưởng. Giáo  viên cũng hãy tạo điều kiện cho trẻ khai thác môi trường học tập này nếu các em chưa có cơ hội.

     Ví dụ:Em hãy về tìm hiểu cho cô câu hỏi sau: Tại sao gọi chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 ở Hà Nội và các thành phố khác ở miền Bắc là “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không”?  Bến Nhà Rồng được xây dựng từ  năm nào? Vì sao lại được đặt tên là Bến Nhà Rồng?

         Tuy nhiên  qua việc trao đổi , cùng trò chuyện giải đáp những thắc mắc của các em trong các tiết học lịch sử trên lớp, đôi khi chúng ta sẽ bắt gặp những suy nghĩ  lệch lạc không đúng về một sự kiện, nhân vật lịch sử  mà người lớn vô tình truyền đạt cho các em. Đây quả là điều không tốt trong việc giáo dục trẻ trở thành công dân của đất nước mình đang sống. Chúng ta hãy nhìn nhận vấn đề một cách khách quan nhất, tránh cường điệu và cần có sự chọn lọc khi nói chuyện với các em. Bởi tâm hồn các em như  tờ giấy trắng, chưa đủ để đánh giá, nhìn nhận những điều mà chúng ta đôi khi còn phải đang bàn cãi, suy ngẫm. Hãy suy nghĩ thật kĩ, hãy chuẩn bị trước khi làm, khi nói, nhất là đối tượng nghe là trẻ em. Và để làm được điều này chúng ta cũng cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường và gia đình.

4.Khai thác phương tiện dạy học:

- Tất cả những hình ảnh, lược đồ, sơ đồ, đoạn phim tư liệu làm phương tiện trực quan phải rõ ràng, chính xác  và làm nổi bật được nội dung bài dạy, nội dung tìm hiểu.

     Ví dụ: Khi sử dụng lược đồ nêu diễn biến  chiến dịch Điện Biên Phủ hay bất kì trận đánh nào, chúng ta nên làm những mũi tên động, màu sắc phù hợp ở từng địa điểm quan trọng.

          - Ngoài những phương tiện dạy học truyền thống đã rất quen thuộc đối với thầy cô giáo đứng lớp, qua những buổi chuyên đề ở TP, Tỉnh, cấp trường và ngay tại lớp, chúng ta nhận ra rằng: Việc ứng dụng công nghệ thông tin để soạn giáo án luôn đem lại hiệu quả cao trong việc giảng dạy. Đặc biệt là đối với những môn Tự nhiên- Xã hội như lịch sử.

       Ví dụ:.  Khi dạy bài “Bác Hồ đọc Bản tuyên ngôn độc lập”, việc lồng một đoạn phim tư liệu về hình ảnh Bác đang đọc Bản tuyên ngôn độc lập với giọng nói ấm áp thân thương:“Tôi nói đồng bào có nghe rõ không?” cũng đủ để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng học sinh, những thế hệ sau.

5.  Phương pháp dạy học:

          - Có rất nhiều phương pháp dạy học từ lâu đã trở nên quen thuộc với  tất cả những ai đã đứng trên bục giảng trong giai đoạn mới này. Đối với phân môn lịch sử, phương pháp trực quan được xem là một trong những phương pháp chủ đạo. Dù vậy, không có phương pháp nào là vạn năng cả, cái khéo và thành công chính là người giáo viên vận dụng phối hợp chúng như thế nào cho hài hòa, phù hợp với mục tiêu bài, điều kiện, trình độ…..của lớp học, học sinh; nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.

          Nếu tất cả biện pháp đều có sự  kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng thì  việc làm cho các em học sinh yêu thích môn lịch sử, tự  tìm đến với lịch sử  quê hương mình là điều không khó chút nào.

III. MỘT SỐ YÊU CẦU ĐỐI VỚI NGƯƠÌ GV    :

- Giáo viên phải nỗ lực và dành nhiều thời gian cho mục tiêu giảng dạy của mình, xây dựng, đầu tư kế hoạch bài  dạy.

- Tự bản thân phải không ngừng học tập để cập nhật thông tin, kiến thức.

- Phải có sự trao đổi, kết hợp liên thông thống nhất với tất cả các đối tượng cùng tham gia giáo dục.

- Giáo viên cần được sự hỗ trợ về thiết bị dạy học thiết thực và hiệu quả bên cạnh việc linh hoạt, chủ động làm đồ dùng dạy học của mỗi giáo viên.

- Và điều quan trọng, mỗi giáo viên phải có tâm và nhiệt huyết với nghề.

           IV. KẾT THÚC VẤN ĐỀ:

    Những biện pháp được trình bày trên đây đã được đúc kết kinh nghiệm từ  quá trình giảng dạy  của giáo viên đứng lớp, được công tác trong một môi trường làm việc nghiêm túc, chuyên nghiệp và cụ thể là trên thực tế kết quả học tập của học sinh. Qua từng giai đoạn học, thầy và trò hiểu nhau hơn. Bản thân các em trong tiết học lịch sử luôn có sự  mạnh dạn ,tin tưởng đưa ý kiến, câu hỏi thắc mắc của mình đến cho thầy, cho các bạn trong lớp. Điều này càng làm cho người thầy phải không ngừng tìm tòi, nghiên cứu kiến thức trước khi giải đáp cho các em. Đó  còn là động lực để người thầy tiếp tục hoàn thiện tốt vai trò của người giáo viên trong thời đại mới.

                                                                            

 

---------------------------

 

 

 

Chuyên đề 4:  MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỂ DẠY BỘ MÔN LỊCH SỬ

                                                Lê Thị Thanh (TH thị trấn Củng Sơn)

I/ Những đặc điểm chung:

 

          - Lịch sử là những điều đã diễn ra và tồn tại khách quan trong qúa khứ. Do đó, không thể phán đoán suy luận, tưởng tượng để nhận thức lịch sử, cũng không thể quan sát trực tiếp những sự việc đã xảy ra, bởi nó là cái đã qua và không thể tồn tại, tái diễn được.

          - Do nhận thức của học sinh tiểu học còn thấp, chưa đầy đủ, sâu sắc và chưa có khả năng tư duy khái quát cao nên việc giảng dạy và cung cấp kiến thức cho học sinh cũng cần phải quan tâm và đặc biệt chú ý.

 

II/ Một số kinh nghiệm giảng dạy trong thực tế:

 

          - Như chúng ta đã biết, trong dạy học không có một PPDH nào là cũ, cũng không có PPDH nào là vạn năng, tuyệt đối tối ưu. PPDH nào cũng có ưu điểm, nhược điểm, mặt mạnh, mặt yếu của nó. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy người giáo viên phải biết kết hợp có hiệu quả nhất và phát huy được tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh, đem lại cho học sinh niềm say mê, hứng thú của  môn học, bài học… Đó chính là kết quả mà người giáo viên mong muốn nhất.

          - Chính vì vậy, trong nhiều năm giảng dạy ở khối lớp Bốn, chúng tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm trong giảng dạy môn lịch sử:

 

          Thứ nhất:  Muốn nhận thức được lịch sử, con người phải thông qua các dấu tích của quá khứ. Vì vậy, khi giảng dạy để giúp học sinh tiếp nhận thông tin thì người GV phải biết sử dụng các tài liệu như: tranh, ảnh, bản đồ, mẫu vật… Tuy nhiên PP giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ nhất đó là sử dụng lời nói sinh động, giàu hình ảnh của GV – Đó là: Miêu tả, kể chuyện, tường thuật( Mặc dù PP này được gọi là PP cũ)

          Vì khi miêu tả, kể chuyện, tường thuật những sự kiện lịch sử quan trọng đã được hiện lên với đầy đủ tính cụ thể, gợi cảm và có kịch tính, đem đến cho học sinh những cảm xúc mạnh và các em sẽ nhớ lâu hơn.

          + Ví dụ: Khi dạy bài “ Cuộc kháng chiến chống quan Tống lần thứ hai” –GV sẽ tường thuật lại trận chiến tại phòng tuyến sông Như Nguyệt sẽ giúp HS nhớ bài dễ hơn và các em cũng sẽ kể lại được một cách đơn giản.

 

          Thứ hai: Nhận thức lịch sử phải thông qua dấu tích của quá khứ (như di tích, đồ vật, hiện vật, tranh ảnh..). Cho nên PP trực quan rất có ý nghĩa. Vì vây, khi dạy GV phải cho HS được quan sát những hiện vật, tranh ảnh đó một cách rõ ràng để các em biết.

          + Ví dụ: Khi dạy bài “Chùa thời Lý”, GV phải giới thiệu cho HS biết một số chùa từ thời Lý còn tồn tại tới ngày nay bằng cách cho các em được xem hình ảnh của một số ngôi chùa nổi tiếng trên cả nước.

 

          Thứ ba: Dạy cho học sinh học lịch sử không chỉ để hình dung được hình ảnh của quá khứ mà còn phải giúp các em hiểu lịch sử,  nắm được bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử. Vì vậy , giáo viên phải giúp cho các em hình thành khái niệm, từ đó rút ra bài học lịch sử và những kết luận cần thiết. Giáo viên phải viên dùng hệ thống câu hỏi phù hợp để nêu vấn đề, dẫn dắt học sinh, khêu gợi sự suy nghĩ của các em để giúp các em tìm ra vấn đề. Vì vậy, giáo viên cần sử dụng PP đàm thoại.

 

          Thứ tư: Để giúp các em có tinh thần học tập tốt, cũng như có sự hợp tác giúp đỡ nhau trong học tập, có những bài GV tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm (đôi, ba, bốn) hay đóng vai để các em hứng thú, thi đua trong học tập và ghi nhớ, khắc sâu được kiến thức.

          + Ví dụ : Khi dạy bài: “ Nước Âu Lạc” – GV cho học sinh thảo luận để tìm ra những điểm giống và khác nhau ( Về nông nghiệp) của nhà nước Văn Lang và nhà nước Âu Lạc.

           Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân trong giảng dạy với bộ môn lịch sử. Vì giáo viên tiểu học không phải là một giáo viên chuyên cho một bộ môn nào, vì vậy, những kinh nghiệm của bản thân chỉ là một phần kinh nghiệm nhỏ đóng góp cùng bạn bè đồng nghiệp. Rất mong nhận được nhiều những kinh nghiệm quý báu khác của tất cả mọi người.

                                                                  

Nguồn: anhai-tuyan.phuyen.edu.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 48
Hôm qua : 3
Tháng 12 : 84
Năm 2019 : 3.469